GS.TS Nguyễn Thị Lan góp 3 kiến nghị lớn cho dự án Vành đai 5 vùng Thủ đô

GS.TS Nguyễn Thị Lan đề xuất 3 kiến nghị cho dự án Vành đai 5: phát triển hành lang kinh tế, quản trị giá trị đất và xây dựng hạ tầng xanh, hạ tầng số.

Thảo luận tại tổ sáng 6/8 về dự thảo Nghị quyết chủ trương đầu tư Dự án xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội, GS.TS Nguyễn Thị Lan, đại biểu Quốc hội đoàn Hà Nội, cơ bản đồng tình với Tờ trình của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính.

Theo bà Lan, việc đầu tư đường Vành đai 5 là rất cần thiết, có ý nghĩa chiến lược, không chỉ góp phần giải quyết ùn tắc giao thông, tăng cường kết nối vùng mà còn tạo động lực mở rộng không gian phát triển của Hà Nội và các địa phương trong Vùng Thủ đô trong nhiều thập kỷ tới.

Thảo luận tại tổ sáng 6/8 về dự thảo Nghị quyết chủ trương đầu tư Dự án xây dựng đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội, GS.TS Nguyễn Thị Lan, đại biểu Quốc hội đoàn Hà Nội, cơ bản đồng tình với Tờ trình của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính. Ảnh: Quochoi.vn.
Thảo luận tại tổ sáng 6/8 về dự thảo Nghị quyết chủ trương đầu tư Dự án xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội, GS.TS Nguyễn Thị Lan, đại biểu Quốc hội đoàn Hà Nội, cơ bản đồng tình với Tờ trình của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính. Ảnh: Quochoi.vn.

Đại biểu cũng thống nhất với nhiều nội dung trong Báo cáo thẩm tra, đặc biệt là yêu cầu tiếp tục làm rõ nguồn vốn, khả năng cân đối vốn, tiến độ thực hiện, cơ chế phối hợp giữa các địa phương, hiệu quả đầu tư và cơ chế khai thác giá trị tăng thêm từ đất trước khi Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư. Theo bà, đây đều là những vấn đề có ý nghĩa quyết định đến tính khả thi và hiệu quả lâu dài của dự án.

GS.TS Nguyễn Thị Lan đề xuất ba nhóm kiến nghị nhằm hoàn thiện dự thảo nghị quyết.

Bổ sung nguyên tắc phát triển hành lang kinh tế

Đại biểu đồng tình với định hướng trong Tờ trình khi xác định dự án sẽ mở rộng không gian phát triển đô thị, công nghiệp, dịch vụ và logistics của Vùng Thủ đô.

Tuy nhiên, theo bà, dự thảo mới xác định mục tiêu phát triển nhưng chưa thể hiện rõ nguyên tắc gắn đầu tư tuyến đường với quy hoạch sử dụng đất và phát triển không gian kinh tế hai bên tuyến.

Vì vậy, bà đề nghị nghiên cứu bổ sung vào Điều 1 về mục tiêu đầu tư hoặc Điều 2 về phạm vi đầu tư nguyên tắc: việc đầu tư dự án phải gắn với quy hoạch sử dụng đất, phát triển không gian kinh tế và khai thác hiệu quả quỹ đất hai bên tuyến theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Theo GS.TS Nguyễn Thị Lan, thực tiễn cho thấy giá trị lớn nhất của một tuyến vành đai không chỉ nằm ở khả năng lưu thông mà còn ở khả năng tạo lập không gian phát triển mới. Nếu chỉ hoàn thành tuyến đường trong khi quy hoạch đô thị, công nghiệp, logistics và dịch vụ được triển khai sau hoặc thiếu đồng bộ thì hiệu quả đầu tư sẽ bị hạn chế.

Ngược lại, nếu được chuẩn bị đồng bộ ngay từ đầu, Vành đai 5 sẽ trở thành hành lang phát triển kinh tế, tạo động lực thu hút đầu tư, hình thành các trung tâm logistics, công nghiệp công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và dịch vụ của toàn Vùng Thủ đô.

Không chỉ khai thác mà phải quản trị giá trị tăng thêm từ đất

Ở nhóm kiến nghị thứ hai, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam bày tỏ đồng tình với Báo cáo thẩm tra khi đề nghị Chính phủ làm rõ cơ chế khai thác giá trị tăng thêm từ đất, nguyên tắc phân chia nguồn thu và giải pháp phòng ngừa đầu cơ đất đai.

Theo bà, điều quan trọng không chỉ là khai thác giá trị đất mà còn phải quản trị giá trị đất.

Đại biểu dẫn ví dụ, một khu đất nông nghiệp trước đây có giá trị không cao. Sau khi Nhà nước đầu tư tuyến Vành đai 5, hình thành nút giao và hạ tầng kết nối, giá trị khu đất có thể tăng lên nhiều lần. Phần giá trị tăng thêm đó chủ yếu không phải do người sử dụng đất đầu tư mà do Nhà nước đầu tư hạ tầng bằng ngân sách.

GS.TS Nguyễn Thị Lan góp 3 kiến nghị lớn cho dự án Vành đai 5 vùng Thủ đô. Ảnh: Quochoi.vn.
GS.TS Nguyễn Thị Lan góp 3 kiến nghị lớn cho dự án Vành đai 5 vùng Thủ đô. Ảnh: Quochoi.vn.

“Vì vậy, vấn đề không chỉ là sau này Nhà nước thu được bao nhiêu từ đất, mà ngay từ đầu phải quản trị cả quá trình hình thành giá trị đó: từ quy hoạch sử dụng đất, công khai thông tin, kiểm soát đầu cơ đến cơ chế khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lực tăng thêm từ đất để phục vụ lợi ích chung”, bà Lan nêu quan điểm.

Đại biểu cũng dẫn kinh nghiệm của Hồng Kông khi kết hợp phát triển hệ thống đường sắt đô thị với phát triển quỹ đất xung quanh nhà ga. Giá trị đất tăng thêm được sử dụng để đầu tư trở lại cho hạ tầng giao thông và phát triển đô thị.

Theo bà, điều đáng học hỏi không phải là mô hình cụ thể mà là tư duy quản trị: hạ tầng tạo ra giá trị đất và một phần giá trị đó được sử dụng để tiếp tục đầu tư cho hạ tầng và lợi ích công.

Hiện nay, dự thảo nghị quyết mới đặt ra yêu cầu nghiên cứu cơ chế khai thác nguồn lực từ đất nhưng chưa xác lập nguyên tắc quản trị quá trình hình thành giá trị đất do Nhà nước đầu tư hạ tầng tạo ra.

Vì vậy, bà đề nghị bổ sung vào điều quy định về cơ chế, chính sách thực hiện dự án nguyên tắc: việc khai thác giá trị tăng thêm từ đất phải được thực hiện công khai, minh bạch, gắn với quy hoạch, kiểm soát đầu cơ và ưu tiên tái đầu tư phát triển hạ tầng của khu vực hưởng lợi.

Theo đại biểu, đây không chỉ là giải pháp huy động nguồn lực mà còn góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư công và bảo đảm công bằng trong phân bổ lợi ích từ phát triển hạ tầng.

Định hướng phát triển hạ tầng xanh, hạ tầng số

Ở kiến nghị thứ ba, GS.TS Nguyễn Thị Lan đề nghị bổ sung định hướng phát triển hạ tầng xanh và hạ tầng số ngay trong nghị quyết.

Bà cho rằng, mặc dù đồng tình với định hướng phát triển bền vững của dự án, song dự thảo hiện chưa thể hiện rõ mục tiêu xây dựng Vành đai 5 trở thành tuyến hạ tầng xanh và hạ tầng số của Vùng Thủ đô.

Trong bối cảnh Việt Nam thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, theo bà, ngay từ chủ trương đầu tư cần xác lập định hướng này để làm cơ sở lập Báo cáo nghiên cứu khả thi và thiết kế kỹ thuật.

Đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 1 của dự thảo nghị quyết nội dung: dự án được đầu tư theo định hướng hạ tầng xanh, hạ tầng số, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

Trên cơ sở đó, Chính phủ sẽ cụ thể hóa trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư các yêu cầu về hệ thống giao thông thông minh, dữ liệu số, vật liệu xanh, công nghệ tiết kiệm năng lượng, quản lý phát thải carbon và các giải pháp nâng cao khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu.

Theo GS.TS Nguyễn Thị Lan, đây không chỉ là đầu tư cho môi trường mà còn là đầu tư cho chất lượng công trình, hiệu quả sử dụng nguồn lực và năng lực cạnh tranh của đất nước trong dài hạn.

Đại biểu bày tỏ tin tưởng, nếu tiếp tục hoàn thiện dự thảo nghị quyết theo hướng gắn kết chặt chẽ giữa đầu tư hạ tầng với quy hoạch phát triển không gian, quản trị hiệu quả nguồn lực đất đai và định hướng phát triển hạ tầng xanh, hạ tầng số, thì đường Vành đai 5 sẽ không chỉ giải quyết bài toán giao thông mà còn trở thành động lực phát triển mới của Vùng Thủ đô, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.